Xin lỗi
Truyện ngắn
Minh bật dậy định tắt bài hát trên chiếc điện thoại.
Mười giây trôi qua…
Giọng ca sĩ vang lên…
Anh nằm vật xuống sofa, cánh tay thả lỏng.
“...Có người gieo vào nhau niềm tin,
Tình ấm nóng không thể rời xa…”
Thanh là người đầu tiên gửi cho Minh bài hát này. Lúc đó, Thanh nói, “Nghe đi anh! Nghe bài này tự nhiên em buồn.”
Thanh là vậy, lúc nào cũng nghe nhạc buồn. Em không thích nhạc buồn vì nó buồn, mà do những giai điệu chầm chậm, nhè nhẹ, thấm đẫm ưu tư lúc nào cũng mang lại cho Thanh cảm giác dễ chịu. Những lúc như vậy, Thanh thấy mình bình lặng, từ tốn, được thở, được sống; trái hẳn với con người hoạt bát, sinh động thông thường. Nếu ai đó bắt gặp Thanh trong lúc em nghe nhạc thì chắc 99 trong 100 lần là nhạc buồn, bài còn lại nhiều khi là nhạc quảng cáo mà Thanh quá lười để bỏ qua.
Chắc hẳn Thanh không phải là người duy nhất thích nghe nhạc buồn. Có người nghe vì giai điệu, kẻ khác lại trầm ngâm trong lời lẽ; Thanh thì nghe vì thấy dễ chịu. Em sinh ra trong nỗi buồn và thấy mình an toàn ở trong ấy, nhỏ bé, kín đáo, và riêng tư. Buồn cũng không hẳn là xấu.
Ngoài thói quen nghe nhạc buồn, Thanh còn hay gửi nhạc cho Minh. Người ta bồ bịch thì gửi tin nhắn mùi mẫn, “cẩu lương” này nọ, còn không thì hình ảnh vui vẻ, hài hước hoặc hẹn hò đi ăn; còn tin nhắn của Thanh và Minh chỉ toàn bài hát.
Hồi mới quen, Minh hay sợ không biết người yêu mình có ẩn ý gì trong câu hát không, nên thường nghe kỹ từng câu từng chữ, rồi nhắn tin lại hỏi, “Bộ em giận gì anh hả?” Nhưng sau một trăm lần cũng chỉ nhận được câu trả lời, “Giận gì đâu cha nội!” Nhạc hay nên gửi thôi ba!” thì Minh không thèm suy nghĩ nữa. Nhiều bữa đang hừng hực năng lượng tích cực buổi sáng, người yêu gửi cho bài hát tỉ tê “và từ đây mãi mãi mất nhau, mãi mang thương đau mây đen giăng mờ”, tự nhiên anh thèm đẩy xe vô nhà, khỏi đi làm cho rồi.
Nói vậy chứ Minh thương Thanh lắm, thương từ lần đầu gặp mặt.
Trưa hôm đó Minh đang hì hục dắt con xe cà tàng ra khỏi bãi giữ vừa chật chội lại còn nắng nóng của trường đại học. Anh không nhớ đây là lần thứ bao nhiêu mình vừa đẩy xe vừa chửi cái trường thổ tả thu học phí thì mắc mà có cái bãi giữ xe cũng không dám đầu tư. Mà trưa hôm đó, Minh không phải là người duy nhất chửi.
“Bà nội cha mày!”
Tiếng chửi vang lên sát rạt sau tiếng kêu thất thanh “Ăn trộm xe!” - và rồi mọi chuyện diễn ra cực nhanh.
Cái nón bảo hiểm tổ bố bay trượt qua mang tai Minh, đáp thẳng vô đầu một thanh niên áo xám đang dắt xe trước anh chừng mười bước chân. Tiếng “Hự!” vừa kịp vang lên là một bóng trắng bay xổ tới đạp thẳng vô lưng tên trộm. Minh không phải là dân học võ, nhưng cũng coi phim chưởng đủ nhiều để biết người mặc áo thun trắng…có nghề. Mười phút sau, công an phường có mặt kịp thời để can Thanh khỏi đập gãy mũi tên thanh niên xúi quẩy kia.
Thanh ngồi bên lề, thở hồng hộc, nhưng ánh mắt thì sáng lên nụ cười đắc chí. Chẳng hiểu trời xui đất khiến thế nào mà lúc đó Minh có đủ dũng cảm bước tới gần Thanh, mỉm cười, hất mặt về phía công an phường rồi nói một câu mà sau này nghĩ lại anh còn thấy mình vô duyên,
“Hông biết thằng đó có sao không hén?!”
Thanh trợn mắt nhìn Minh, “Bộ mày chung băng với thằng đó hả?”
“Đâu có! Đâu có!” Minh lắc đầu lia lịa, mắt thì dè chừng cái nón bảo hiểm trên tay Thanh, sợ chưa kịp nói gì là ăn trọn một chưởng.
Bỗng Thanh nhe răng cười hì hì, mắt nheo lại, “Giỡn thôi anh ơi!”
Chính giây phút đó; cái giây phút mà ánh nắng trưa gay gắt chiếu xuyên qua từng tầng lá của hàng cổ thụ ven đường điểm những hạt sáng nhè nhẹ lên nụ cười của Thanh; Minh biết mình đã thương em.
Anh chưa bao giờ quên được cảm giác chợt bật cười theo Thanh. Nụ cười ấy không phải của người thoát nỗi sợ bị đánh, bị hiểu lầm, càng không phải nụ cười chữa thẹn của người bị chọc quê. Nó như một sự lây lan không kiểm soát được. Anh cười vì cái âm thanh trong trẻo phát ra từ con người kia thật đẹp. Anh chưa từng biết ai chừng ấy tuổi mà có thể cười hồn nhiên và vô tư như vậy. Tiếng cười trong veo, giòn tan hòa vào tiếng xe cộ lộn xộn giờ trưa, cùng với tiếng í ới của bạn bè gọi nhau trong bãi giữ xe tạo thành một âm thanh réo rắc mà chưa bài nhạc nào của Thanh có được.
Tiếng cười ấy vẫn theo hai đứa mãi sau này khi Minh đèo Thanh lang thang khắp Sài Gòn. Những buổi sáng khi Minh đưa Thanh đi học, em ngồi phía sau kể về giấc mơ đêm qua, cười nắc nẻ vì mình trong mơ làm tỷ phú rồi mà vẫn thèm ăn bò bía vỉa hè; rồi thắc mắc là nếu bà bò bía biết em là tỷ phú thì có còn chịu bán thiếu cho em nữa không. Hay những buổi chiều hai người ngồi ăn xiên que cạnh bờ sông, Minh say sưa nói về dự định tương lai; về ước mơ dắt tay em đi khắp thế giới; còn Thanh thì cười chọc ghẹo, “Chắc tụi mình sống thêm chục kiếp nữa mới đủ tiền quá!”
Khi nào Thanh cũng cười, hay đúng hơn là em luôn tìm được lý do để cười. Minh để ý chỉ khi nghe nhạc buồn là Thanh không cười. Lần đó hai đứa nằm nghe nhạc trong phòng Minh; Thanh gối đầu lên bụng anh, khẽ chỉ lên màn hình laptop, nơi cô ca sĩ mặc chiếc váy đỏ đang lắc lư theo nhạc giữa trời chiều Đà Lạt.
“Em muốn có nhà ở đó.”
“Chốt luôn em!”
Sau này Minh mới biết là Thanh muốn thật. Không phải là mong muốn theo kiểu bạn bè cùng lứa thèm “bỏ phố về quê” - Thanh có hẳn cho mình một kế hoạch. Em hay theo dõi giá đất, rồi vạch ra chi tiết mình phải làm những gì để có tiền. Nghĩ cũng buồn cười, Thanh phải sống thêm vài kiếp nữa mới đủ tiền đi chu du thế giới với người yêu, nhưng sẽ xây được nhà ở Đà Lạt chỉ trong kiếp này. Đôi khi người ta dù nằm cạnh nhau nhưng có những ước mơ khác xa nhau; dù họ sống cùng nhau trong những giấc mơ ấy.
Em kể ngày xưa mẹ cũng ước mơ như vậy. Dẫu không phải là một căn nhà nhỏ ở Đà Lạt mộng mơ, nhưng mẹ em cũng mơ một cuộc sống bình yên tránh xa sự ồn ào của phố thị. Bà sợ chốn thị thành không phải là vì sự đông đúc, ô nhiễm hay chật chội mà là vì cha em. Bà sợ những âm mưu, thủ đoạn mà ông và phe cánh lập ra để hại đối thủ có ngày phản tác dụng. Mẹ em sợ những chiếc dao găm cắm trong biết bao lời ngon ngọt mà cấp dưới rót vào tai cha trong mỗi cuộc nhậu. Mẹ sợ vì quá tự phụ mà có ngày những chiếc dao đó sẽ cắm vào cổ, vào đầu cha.
Bà kiên nhẫn rủ rỉ vào tai ông một cuộc sống bình dị nhẹ nhàng chốn thôn quê; bà hy vọng ông vì thương hai mẹ con mà chịu từ bỏ mọi thứ. Lần nào ông cũng gật đầu vui vẻ, “Ừ, ừ! Em yên tâm. Xong đợt này là anh bỏ hết, đưa mẹ con em về quê sống an nhàn!” Ông nhiệt tình cổ vũ giấc mơ của bà, góp ý bản vẽ căn nhà gỗ, bảo phải đặt sân vườn chỗ này, ao cá chỗ kia.
Ngày bà dắt tay Thanh về quê ông còn cho tài xế chở đi, dặn dò kỹ, “Tuần sau anh chốt hết mớ giấy tờ này là anh về với hai mẹ con.” Bà tin, Thanh cũng tin; vậy mà cái tuần sau đó chẳng bao giờ tới. Ông đương nhiên chọn cuộc sống quyền quý ấm no nơi thị thành với một người vợ ngoan biết ủng hộ chồng; hay đúng hơn là im lặng và thể hiện niềm tin nơi chồng.
Thanh sống với mẹ suốt những tháng ngày dật dìu ở quê; những ngày bà lén Thanh ngồi khóc rấm rứt. Suốt bao nhiêu năm, bà tìm cách liên lạc, tìm cách xin lỗi vì đã ngáng đường chồng, tìm cách nói cho ông biết bà còn thương ông biết chừng nào. Chưa bao giờ bà gặp được ông.
Bà hay đi xa thật xa, ra tận bờ kè nơi nhiều năm trước ông bắt gặp bà đang gánh mớ rau muống từ ruộng về. Dường như bà hy vọng một điều kỳ diệu nào ở nơi lần đầu gặp gỡ sẽ khiến ông bỏ số điện thoại của bà, hay những số mà bà mượn, ra khỏi danh sách chặn. Bà chưa bao giờ biết mình tin hay không tin ông. Đôi khi không tồn tại cái ranh giới giữa tin một lời hứa nhưng lại không có khả năng tin con người tạo ra lời hứa ấy.
Sau mười năm, khi Thanh lên cấp ba thì bà bỏ cuộc thật. Bà ngưng tìm ông không phải vì hết thương, hay thấy mình không có lỗi mà vì bà đã hết sức. Thanh học xong lớp mười thì mẹ mất. Trên giường bệnh bà còn dặn em, “Con không được hận cha!”
Thanh không hận ông; không thù ghét, cũng chẳng yêu thương. Với nó, ông chỉ đơn giản là không tồn tại. Nó chỉ biết suốt bao nhiêu năm mẹ nuôi một ước mơ mà sau này mẹ tự trách mình là “ích kỷ”, là “không biết nghĩ đến chồng con”, nhưng với em đó là tấm lòng của người phụ nữ. Ngay cả trong giấc mơ lớn nhất cuộc đời họ cũng chỉ thấy điều đó. Thanh cũng mơ, những giấc mơ chỉ có em và mẹ. Mẹ cười thật hiền, thật tươi, rồi nói, “Cười đi con. Rồi mọi thứ sẽ qua”.
Thanh nuôi ước mơ về căn nhà nhỏ trên Đà Lạt từ ngày mẹ mất - nhưng với em, đó không phải là nơi trốn chạy. Căn nhà của Thanh là nơi em tự do sống mà không phải thấy ai buồn, ai khóc. Đó là nơi em sẽ trở về sau một ngày dài làm việc, nấu một bữa cơm ngon, bật một bản nhạc buồn rồi để nó thấm vào từng thớ thịt, mạch máu. Căn nhà nhỏ sẽ chứng kiến Thanh nuôi một giấc mơ an yên với người mình thương; nơi mà mỗi lần mệt chỉ cần tựa đầu vào nhau, không nói gì, cũng đủ an tâm.
Cũng là một căn nhà nhỏ, nhưng không như mẹ, em không cần ai giúp mình xây dựng căn nhà đó. Em kể cho Minh nghe chỉ đơn giản vì hai đứa yêu nhau, em cảm thấy Minh nên biết. Thanh biết dù thế nào đi chăng nữa, dù một mình hay với ai thì em vẫn sẽ ở trong căn nhà đó, bình an và hạnh phúc như mẹ em từng mong ước.
Minh bỗng chợt hiểu ra điều đặc biệt trong nụ cười của Thanh. Có ai đó đã từng nói với anh rằng điều kỳ diệu của cuộc đời này là những người có cuộc sống không trọn vẹn lại có một tâm hồn tròn trịa đến lạ thường. Có lẽ những méo mó, sứt gãy suốt thời niên thiếu lại va vào nhau khi Thanh cười, khiến giọng cười của em trong veo, giòn tan, và vui vẻ đến vậy.
Anh mang nụ cười ấy theo mình suốt những năm tháng sau nữa. Có lần anh được công ty cử đi theo công trình ở tận Đà Nẵng suốt nửa năm, mỗi lần video call về Minh đều nói câu, “Anh nhớ giọng cười của em quá!” Những lúc như vậy, Thanh lè lưỡi, “Nhớ sao không ghi âm đem theo để dành nghe?!” rồi khúc khích nhè nhẹ.
Số lần Minh nói nhớ giọng Thanh cười ngày càng tỷ lệ thuận với vị trí anh được thăng tiến. Ngày anh lên chức quản lý công trình cũng là khi quyết định cử anh theo dõi dự án lớn bốn năm ở Nha Trang được ký. Minh cầm tờ giấy A4 phẳng phiu đóng mộc đỏ tươi rói nằm phệch ra chõng. Anh hồi tưởng lại suốt bốn năm trời ở công ty, phấn đấu từ một kỹ sư điện rong ruổi khắp các công trình khắp miền nam, học hỏi không biết mệt mỏi suốt ngày đêm; và biết rằng tờ quyết định này với anh là hoàn toàn xứng đáng.
Nhưng anh không phải là cha của Thanh, kẻ sẵn sàng bỏ người mình thương để theo đuổi danh vọng. Anh định sẽ bàn với Thanh rồi tìm một công ty khác. Nơi nào mà cho anh ở gần người thương thì anh sẽ nộp đơn.
“Khùng quá! Anh ra Nha Trang thì em lên Đà Lạt; cách nhau ba tiếng đi xe chứ mấy. Cũng tới lúc bắt đầu ước mơ rồi.”
Chuyện gì vào tay Thanh cũng trở nên dễ dàng như vậy. Em kể chuyện mình kiếm tiền, mua đất, bỏ việc như giỡn chơi. Em chỉ nói đơn giản, “Cuốn gói biến thôi anh ơi!” Vậy là hai đứa ôm đồ và…đi.
Minh theo Thanh lên Đà Lạt để giúp em ổn định nơi chốn rồi mới ra Nha Trang, nhưng hóa ra anh chẳng giúp được gì nhiều. Thanh vốn giao du rộng, nên mọi việc trên Đà Lạt hầu như đã có người quen lo gần hết. Ngày hai đứa đến nơi thì căn nhà gỗ nho nhỏ phía triền đồi đã được mắc điện. Anh không biết mình nên an tâm vì người yêu quá giỏi hay nên giận vì thấy mình thừa thãi.
Thanh nắm chặt tay anh bước vào nhà, nhẹ nhàng nói, “Em cũng không ngờ căn nhà đẹp như vậy.”
“Ý em là sao?”
“Em có biết gì đâu! Nhà này thuê của vợ chồng anh Phương á, nhưng rồi em sẽ mua nó.”
“Vậy mà anh tưởng…”
“Tưởng em giàu lắm hả?” Thanh lại bật cười khanh khách, thúc vào bụng anh rồi ngồi xuống sofa.
Hóa ra ngày Minh nhận được quyết định chuyển công tác cũng là ngày Thanh gọi điện thoại nài nỉ anh Phương cho mình thuê lại căn nhà này. Em định dành tiền thêm vài năm nữa, tìm một công việc tốt tốt ở Đà Lạt rồi mới cùng anh chuyển lên. Thế nhưng cái đêm Minh đòi bỏ việc em biết rằng đã đến lúc phải đi. Thanh vẫn quyết đoán như vậy. Em làm như thể không cần suy nghĩ nhưng thực ra là đã cân nhắc rất nhiều. Em luôn biết mình sẽ phải làm những gì khi đưa ra một quyết định. Đối với em không có được hay mất, chỉ có đáng hay không mà thôi.
Số tiền còn lại sau đặt cọc vừa đủ cho hai đứa sắm sửa vài thứ lặt vặt riêng tư trong nhà. Anh chị chủ cũng chuẩn bị đầy đủ bàn ghế, nồi niêu, chén bát. Sau bữa cơm chiều hôm ấy, hai đứa bật mấy bài nhạc buồn Thanh ưa thích trên cái loa nhỏ mới mua, nằm cuộn trong chăn, nhìn nhau, đỏ hoe.
Buổi sáng ngày Minh xuống Nha Trang nhận công tác, Thanh cắm một bình cẩm chướng đỏ, hỏi anh, “Cuối tuần này mình ăn gì anh?”
“Có gì ăn nấy!”
Cuối tuần đó, và cả những cuối tuần sau, tiếng cười trong veo của em lại vang lên sau chiếc xe cub cà tàng. Chỉ có điều bây giờ nó hòa với sương mờ Đà Lạt chứ không phải với cái nắng gió bụi bặm của Sài Gòn nữa. Sài Gòn đông lắm, mất đi một tiếng cười không ai để ý đâu. Người ta còn bận lắc lư theo tiếng nhạc xập xình trong quán bar, vũ trường hay gào thét qua chiếc loa được kéo dài khắp quán xá ven đường. Ở đây, tiếng cười của em lảnh lót ở bến xe mỗi chiều thứ sáu, khúc khích bên bếp lửa đêm muộn và du dương dưới bầu trời đầy sao.
Có những giấc mơ đẹp đến mức người ta không muốn tỉnh dậy. Một cuộc sống đẹp như mơ đương nhiên làm con người ta hạnh phúc, thế nhưng nó cũng gieo vào lòng một sự nơm nớp, một nỗi sợ rất đỗi tượng hình. Người ta sợ đến lúc nào đó những vệt đen bắt đầu len giữa sắc hồng, hay giấc mơ chuyển sang một màu xám xịt. Tệ hơn, có người còn sợ mình phải thức dậy, sợ cái cảm giác thẫn thờ tiếc nuối một điều mà chỉ vài khoảnh khắc trước còn rất thật.
Thế nhưng sống mãi trong mơ chưa bao giờ là điều tốt. Nó giống như một kẻ nghiện phê pha, đê mê trong cảm giác sung sướng giả tạo đến nỗi mất hết cảnh giác với những vô thường của cuộc sống. Để rồi khi chúng ập đến, con người ta thấy mình bất lực, tuyệt vọng và vô dụng y chang cái cách một đứa trẻ ngồi tiếc nuối viên kẹo ngọt chỉ vừa kịp đưa đến môi trong giấc mơ vừa nãy.
Cuộc đời đã dạy Thanh không được phép như thế. Em đã từng bị quăng ra khỏi cuộc sống giàu sang sung sướng; từng vuột mất một gia đình hạnh phúc. Em cũng từng mò mẫm ngoi ra khỏi sự cô độc, nghèo khổ, tủi hờn. Thanh tự dạy mình rằng chỉ có kẻ ngốc mới bấu víu, còn người thông minh thì sẽ kiến tạo. Em cho mình cơ hội được mơ, được mê say, thổn thức. Tuy vậy, em cũng bắt mình phải tỉnh táo, phải cần mẫn, siêng năng và chủ động.
Buổi chiều hôm đó, khi hai đứa đang nằm trên triền đồi, em khẽ nói với Minh:
“Tuần sau em ra Nha Trang chơi với anh nghen.”
“Ủa sao vậy?”
“Thì tự nhiên em muốn đổi không khí; với muốn coi anh sống ngoài đó thế nào.”
Minh ậm ừ, không nói gì. Anh bối rối. Lẽ thường tình thì đi làm xa, cuối tuần phải về nhà. Với anh Đà Lạt bây giờ là nhà. Căn nhà gỗ nho nhỏ trên sườn đồi là nhà. Thanh là nhà. Anh đã quen vun vén cho nơi này; quen trông ngóng tới chiều thứ sáu để bắt chuyến xe khách liên tỉnh; quen tha những món đồ xinh xinh nho nhỏ về treo đầy cửa sổ nơi Thanh ngồi làm việc.
Anh chưa sẵn sàng để đón Thanh ở nơi tạm bợ của mình; ở căn phòng nhỏ trong căn nhà hai tầng núp phía sau dãy cao ốc chắn biển. Nhóm kỹ sư công ty của Minh ngủ ở tầng trên và làm việc ở tầng dưới. Cả tuần lễ chẳng ai buồn đi đâu trừ việc ghé những quán cơm quen. Minh vốn không coi đó là nhà bởi anh có một nơi chốn hạnh phúc và an yên hơn.
Trưa thứ sáu tuần đó, khi Thanh đang lui cui moi chiếc vé chuyến Đà Lạt - Nha Trang từ trong ba lô thì Minh đã đứng sẵn ở bến xe từ đời nào. Anh cười ha hả, “Dự án xong giai đoạn một rồi nên sếp cho team anh nghỉ một tuần.”
Thanh chưng hửng, rồi quạu quọ cằn nhằn, “Vậy mà không nói sớm. Làm tui mua vé tốn mấy trăm ngàn vậy cha nội!”
Nhiều tháng sau, hay thậm chí là năm sau, Thanh cũng chưa lần nào ra đến Nha Trang để thăm anh. Minh chưa bao giờ cho em cơ hội làm điều đó. Minh chưa bao giờ sẵn sàng, và Thanh cũng không bao giờ đòi hỏi. Em không ép ai phải làm bất kỳ điều gì vì mình, cho mình - nhất là khi họ chưa sẵn sàng, hay chí ít là họ nói vậy.
Minh thấy vừa thoải mái, vừa lo sợ, vừa khó hiểu khi người yêu chẳng bao giờ đòi ra Nha Trang thăm anh thêm một lần nào nữa. Anh không rõ Thanh chờ anh chủ động, hay vô cùng tin tưởng, hay có một thế giới mà anh không bao giờ hiểu nổi.
Bốn năm trôi qua. Vẫn những chuyến xe chiều thứ sáu đưa Minh về nhà; vẫn triền đồi nơi hai người trẻ đi dạo bên nhau, một người vừa đi vừa lẩm nhẩm hát những bản nhạc buồn, một người lẽo đẽo phía sau canh chừng người phía trước trượt ngã, dù người đó chưa bao giờ ngã. Chưa bao giờ.
Sáng hôm đó, Minh mừng như phát khóc. Công ty của anh vừa nhận một dự án lớn ở Đà Lạt. Với công ty và đồng nghiệp của Minh, đó là một món tiền khổng lồ. Với anh, đó là những phút giây hạnh phúc bên người mình yêu, là những bữa cơm chiều đầy tiếng cười mỗi ngày. Với Thanh, vơi Thanh thì anh cũng không rõ.
Ngày nhận dự án, đội của anh được sếp khao một chầu nhậu. Minh thấy mình uống say khướt, nhắn vội cho Thanh một tin bảo em đừng lo, đêm nay anh ngủ lại nhà đồng nghiệp.
Mà Thanh đã không lo. Chưa bao giờ em lo cho Minh như cái cách mẹ mình lo cho người đàn ông đó. Em chưa bao giờ nghĩ mẹ yêu cha em vì chính ông. Suốt những năm tháng sau này, Thanh vẫn cho rằng bà sợ mất ông vì ông là chồng bà, là cha em, chứ không phải vì bất kỳ điều gì khác. Đến cuối cùng bà vẫn mất ông dù chẳng có con dao nào đâm vào tim hay vào đầu ông cả. Thanh hiểu rõ chuyện đó. Không có ai là của ai cả. Khi người ta cố nắm ai đó trong tay hay giữ họ trong lòng, họ đang ôm chính bản thân mình, ôm thật chặt đến nỗi khiến cả hai ngạt thở. Thanh chưa bao giờ muốn đối xử với Minh như vậy. Chưa bao giờ.
Thanh biết, dù không dửng dưng, nhưng cũng không lo lắng, rằng sẽ có thêm nhiều lần Minh nhậu say và không về nhà nữa. Em không biết vì sao mình đã bắt đầu nghĩ vậy kể từ khi Minh báo sẽ về ở hẳn Đà Lạt. Minh không phải là kẻ buông thả hay vô trách nhiệm; Thanh hiểu rõ điều đó. Minh cũng chưa bao giờ không về nhà mà không nhắn tin cho Thanh. Chỉ là Thanh luôn có một cảm giác khi đường về nhà quá gần, quá dễ thì người ta sẽ lười, không về nhà nữa.
Minh vẫn về, dù đôi khi say khướt. Những khi tỉnh, Minh và Thanh vẫn cùng nhau đi dạo trên triền đồi, nấu những bữa cơm ngon, đèo nhau khắp nẻo đường Đà Lạt. Những câu chuyện của Minh bây giờ kể về đồng nghiệp, về sếp, về công trình nhiều hơn. Chẳng hiểu thằng Minh không muốn người yêu biết mình sống như thế nào ở Nha Trang đã chết từ bao giờ. Thằng Minh bây giờ đá một viên sỏi bay khỏi triền đồi như đá cục tức kèm theo tiếng chửi tên sếp khốn nạn. Nhưng cũng thằng Minh đó sẽ lại ngồi cùng bàn nhậu, hát cùng một chiếc microphone với sếp, và sẽ nhắn tin cho Thanh báo không về.
Rồi Minh vẫn về. Anh về để nhận ra mỗi lần mình bước qua khung cửa là bước vào một thế giới khác, một thế giới đón anh vào sống an yên suốt bao nhiêu năm, nhưng anh chưa bao giờ hiểu rõ. Hay anh đã có bao giờ thực sự bước vào trong đó chưa? Anh biết mình thương Thanh, thương tiếng cười, tâm hồn, sự độc lập và tất cả mọi thứ về em. Nhưng anh thấy mình chưa bao giờ hiểu được em. Sao em không phiền giận mỗi khi anh không về nhà; chẳng phải ghen tuông cũng là một phần của tình yêu hay sao. Anh nhắn tin là vì sợ Thanh giận, chứ không phải muốn Thanh biết anh vẫn an toàn. Thanh có biết rằng anh sẽ về nhà không?
Và Minh vẫn về. Về để nói với Thanh rằng anh không hiểu. Về để hỏi Thanh vì sao em chưa bao giờ giận hờn hay khó chịu. Về để nói thật rằng có nhiều đêm anh không say xỉn gì cả, chỉ đơn giản là anh không cảm thấy Thanh chờ mình, nên anh không về.
Nhưng rồi Minh vẫn về.
Người ta định nghĩa nhà là nơi ai đó muốn về để trú ẩn. Người ta tìm thấy trong đó một góc an yên, một niềm an ủi, một sự an toàn, dù họ không thực sự hiểu những điều đó đến từ ai hay cái gì.
Nhà không phải là nơi người ta tìm câu trả lời, hay trông chờ, trói buộc. Nhà càng không phải là một thế giới phải bước qua ngưỡng cửa thì mới vào được. Người ta về nhà mình và vào nhà người khác.
Ngày Minh bước vào căn nhà để tìm câu trả lời nơi Thanh, nơi đó đã không còn là nhà, không là nhà của bất kỳ ai - Minh hay Thanh.
Ai đó đã từng mơ về một ngôi nhà nhỏ, nơi người ta chờ vì hạnh phúc chứ không phải vì lo lắng. Một giấc mơ nơi người ta về nhà vì đó là nhà. Nhưng trên đời này làm gì có giấc mơ nào là trọn vẹn.
“...Có tình yêu vượt qua mùa đông,
Gục chết sau đêm mùa xuân…”
Giấc mơ nào trọn vẹn?



Cảm ơn bài viết của anh. Một câu chuyện mà có thể mỗi người chúng ta sẽ thấy bóng dáng mình trong đó phần nào. Minh và Thanh, hai con người với những nét tính cách riêng, và điểm chung là vì tình yêu mà đến với nhau. Nhưng lạ thay, cũng vì nhân danh tình yêu mà làm nó dần mất đi sự đẹp đẽ vốn dĩ bởi nỗi lo sợ, hoài nghi, bất an, và những ảo mộng dệt thành. Rất nhiều những thái cực cảm xúc xảy ra và trên bánh xe của con đường tình yêu đó, tất cả đều hoà lẫn vào nhau. Không tiếc tháng năm yêu thương một người bằng sự chân thành nhất. Không tiếc tháng năm làm chuyện điên rồ, ngờ nghệch khi yêu. Chỉ là ước mơ có lúc đẹp quá khiến ta muốn sống mãi với nó, mà quên mất thực tại, quên mất sự kết nối sâu sắc với nhau. Chỉ là những gì ta nghe thấy như thế hoá ra chẳng phải như vậy của người nói.
P/s: Bài hát buồn không phải vì chính nó buồn, có lẽ vì đã "chạm" được điều thầm kín của người nghe.
Tình cảm như cái ngân hàng vô hình, khi ở xa hai bạn ráng bỏ vào ngân hàng, vun đắp nhiều nhất có thể. Ở gần nhau thì rút hết tiền ra :(.